Thứ bảy, 22/02/2025
IMG-LOGO
Trang chủ Lớp 9 Văn Đề thi cuối kì 1 Ngữ Văn lớp 9 KNTT có đáp án

Đề thi cuối kì 1 Ngữ Văn lớp 9 KNTT có đáp án

Đề thi cuối kì 1 Ngữ Văn lớp 9 KNTT có đáp án ( Đề 5)

  • 481 lượt thi

  • 7 câu hỏi

  • 45 phút

Danh sách câu hỏi

Câu 1:

Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên?

Xem đáp án

Thể thơ: Song thất lục bát;

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm


Câu 2:

Tâm trạng của người chinh phụ nảy sinh trong hoàn cảnh nào? Nêu một chi tiết giúp em nhận biết hoàn cảnh ấy?

Xem đáp án

- Tâm trạng của người chinh phụ nảy sinh trong hoàn cảnh: Hai vợ chồng xa cách vì người chồng chinh chiến nơi xa, lâu ngày không có tin tức.

- Chi tiết giúp em nhận biết hoàn cảnh ấy: Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây/ Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời/ Cớ sao cách trở nước non.


Câu 3:

Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong đoạn thơ:

Thưở lâm hành oanh chưa bén chưa bén liễu,

Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.

Nay quyên đã giục oanh già,

Ý nhi(4) lại gáy trước nhà líu lo

 

Thưở đăng đồ(5 )mai chưa dạn gió,

Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.

Nay đào đã quyến gió đông

Phù dung lại đã bên song bơ xờ.

Xem đáp án

- Biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong đoạn thơ: Thuở…chưa…Hỏi ngày về…nay… 

- Tác dụng:

+ Tạo nhịp điệu tha thiết, khắc khoải, làm cho lời thơ sinh động, hấp dẫn, giàu tình gợi hình, gợi cảm.

+ Nhấn manh, làm nổi bật khoảng cách thời gian li biệt của hai vợ chồng.

+ Qua đó thể hiện nỗi nhớ nhung, sầu muộn và lo lắng cho chồng của người chinh phụ. Đồng thời cho thấy sự đồng cảm của tác giả với tình cảnh của người chinh phụ.


Câu 4:

Qua tâm sự  của  nhân vật người chinh phụ trong đoạn trích, em có suy nghĩ gì về thân phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến?  

Xem đáp án

Suy nghĩ gì về thân phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến:  Số phận họ đầy bi kịch, đáng thương, là nạn nhân của chiến tranh phong kiến phi nghĩa.


Câu 5:

Đoạn trích trên đã gửi gắm đến người đọc những thông điệp ý nghĩa nào?

Xem đáp án

 Đoạn thơ trên đã gửi gắm đến người đọc những thông điệp ý nghĩa:

- Tố cáo chiến tranh phi nghĩa, khiến con người - đặc biệt là người phụ nữ phải chịu nhiều đau thương, mất mát.

- Đồng cảm với số phận bi kịch, đáng thương của con người.

- Biết trân trọng, yêu quý và có ý thức gìn giữ cuộc sống hòa bình mà mình đang có.


Câu 6:

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của bản thân về ý nghĩa của tình thương yêu trong cuộc sống.

Xem đáp án

* Yêu cầu về hình thức, kĩ năng: Đảm bảo đoạn văn nghị luận có bố cục mạch lạc, sử dụng linh hoạt các kiểu câu và có sự liên kết chặt chẽ giữa các câu, các ý trong đoạn văn. Có cách diễn đạt trong sáng độc đáo, thể hiện những suy nghĩ, kiến giải mới mẻ về vấn đề nghị luận.

Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng thuyết phục.

Sau đây là một hướng gợi ý:

1. Mở đoạn: Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận.

2. Thân đoạn:

Bước 1: Giải thích: Tình yêu thương là sự sẻ chia, thấu hiểu giữa con người với con người.

Bước 2: Phân tích, chứng minh

a) Biểu hiện của tình yêu thương:

- Trong gia đình

- Trong xã hội

b) Ý nghĩa của tình yêu thương:

- Sưởi ấm tâm hồn những con người cô đơn, đau khổ, bất hạnh, truyền cho họ sức mạnh, nghị lực để vượt lên hoàn cảnh.

- Tạo sức mạnh cảm hoá kì diệu đối với những người “lầm đường lạc lối”; mang lại niềm hạnh phúc, niềm tin và cơ hội để có cuộc sống tốt đẹp hơn;

- Là cơ sở xây dựng một xã hội tốt đẹp, có văn hóa.

* Dẫn chứng: Giúp đỡ đồng bào lũ lụt, ủng hộ nhân dân vùng dịch, giúp đỡ những người có hoàn cảnh bất hạnh,...

Bước 3: Bàn luận, mở rộng

Phê phán những người trong xã hội sống thiếu tình thương, vô cảm, dửng dưng trước nỗi đau chung của đồng loại; những kẻ ích kỉ, chỉ biết lo cho cuộc sống của bản thân mình mà không quan tâm đến bất cứ ai.

Bước 4: Bài học nhận thức và hành động

- Tình yêu thương có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống.

- Chúng ta hãy nâng niu hạnh phúc gia đình; hãy sống yêu thương, biết sẻ chia, đồng cảm với những cảnh ngộ trong cuộc đời.

3. Kết đoạn:

Tổng kết, khẳng định lại vấn đề: Tình yêu thương có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, là lẽ sống của mỗi người.


Câu 7:

Phân tích đoạn thơ sau sau:

Người lên ngựa kẻ chia bào(1),

Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san(2).

Dặm hồng bụi cuốn chinh an(3),

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

Người về chiếc bóng năm canh,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường(4)

(“Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du,

NXB Văn hóa thông tin, 2002, tr. 142-143)

Xem đáp án

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

- Học sinh biết tạo lập một bài văn nghị luận đảm bảo đủ cấu trúc 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận về Phân tích đoạn thơ: “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” – trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

c Triển khai vấn đề nghị luận

- Chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, có sức thuyết phục; sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng.

- HS có thể triển khai theo những cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

1. Mở bài:

* Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều, nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.

2. Thân bài:

Luận điểm 1. Phân tích đặc sắc nội dung của đoạn trích.

- Sau khi ra khỏi lầu xanh lần thứ nhất và được đoàn tụ với Thúc Sinh, Thúy Kiều được sống trong những ngày tháng ấm êm, hương lửa thêm nồng. Tuy nhiên, nàng vẫn sợ vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư nên đã giục chàng về thưa lại với Hoạn Thư để nàng xin làm lẽ. Với Kiều, đây là chuyến đi đầy lưu luyến và tràn trề niềm tin hi vọng:

Chén đưa nhớ bữa hôm nay,

Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau

- Đây là đoạn trích miêu tả thành công những xúc cảm, nỗi mừng lo lẫn lộn, và vượt lên trên tất cả là nỗi niềm của một tâm hồn chất chứa những mâu thuẫn. Qua những biện pháp tu từ nghệ thuật, Nguyễn Du đã vẽ nên bức tranh phong cảnh nên thơ và bộc lộ tâm sự của người đi kẻ ở trong buổi tiễn biệt.

* Bức tranh thiên nhiên lúc chia tay:

Người lên ngựa kẻ chia bào,

Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.

Dặm hồng bụi cuốn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

- Khung cảnh biệt ly, thấm đẫm nỗi buồn da diết có sức khái quát cao: “Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san. Dặm hồng bụi cuốn chinh an, trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh...”. Không gian dường như thay đổi liên tục, từ cánh rừng phong đỏ thẫm, sang con đường thiên lý mà Thúc Sinh đang ruổi ngựa nơi cuối trời. Cả một màu quan tái đã hiện dần lên trong đôi mắt nàng Kiều, những cụm từ quan san, dặm hồng, rừng phong đã tạo nên ấn tượng chia ly, buồn nhưng vẫn mang sắc thái trang trọng.

                       Người lên ngựa, kẻ chia bào,

                  Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.

- Thúy Kiều buông vạt áo cũng là buông khỏi Thúc Sinh, chia bào là một hoán dụ cũng như chiếc yên ngựa của người đi xa, nó dùng để chỉ con ngựa nhưng cũng là ám chỉ người đi xa. Và cuộc ra đi này là một cuộc ra đi định mệnh, nó đã đưa cuộc đời Kiều đi sang một chặng đường mới, khổ đau, tủi nhục, ê chề. Câu thơ “Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san” nhấn mạnh cái cảm giác nhỏ bé, đơn độc của con người, sự mênh mông của nỗi buồn man mác trước không gian bao la, rộng lớn.

* Tâm sự của mỗi người khi tiễn biệt:

Người về chiếc bóng năm canh,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

- Bốn câu thơ sau là cuộc sống đơn lẻ của mỗi người, nàng thì mòn mỏi trông mong, thao thức suốt đêm khuya, còn chàng thì một mình rong ruổi nơi dặm trường. Nghệ thuật tương phản với những cặp đối lập và được biểu hiện qua hình thức tiểu đối như người về - kẻ đi, chiếc bóng - năm canh, muôn dặm - một mình… đã tô đậm sự cách biệt giữa hai người và dường như nó cũng báo hiệu một sự cách xa mãi mãi. Riêng ở câu thơ:

                            Vầng trăng ai xẻ làm đôi?

                   Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường!

- Đây là hai câu thơ tuyệt bút. Nguyễn Du đã lấy ngoại cảnh (vầng trăng) để đặc tả tâm cảnh Thuý Kiều. Có phải Kiều và Thúc Sinh hai người như một vầng trăng tròn bị cắt bị “xẻ” làm hai nửa? Hay từ nay trở đi mỗi người một phương trời chỉ soi lẻ một vầng trăng mà chỉ thấy một nửa? Trăng thượng huyền hay trăng hạ huyền mà chỉ có một nửa: Nửa thì soi gối chiếc của nàng Kiều cô đơn nửa thì soi dặm trường một mình lẻ loi của Thúc Sinh?

Câu thơ vừa xót xa vừa ai oán. Chữ “ai” trong câu thơ “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” như một tiếng thở dài ngao ngán về sự bất lực trươc số phận. Ai đã đang tâm chia rẽ hạnh phúc tròn đầy êm thấm của Kiều? Số phận lẻ mọn buộc nàng phải cam chịu và chấp nhận? Vì ai mà Thúc Sinh phải đi về Vô Tích “muôn dặm một mình xa xôi?”. Cuộc chia tay không thể tránh khỏi. Kiều như dự cảm một cuộc chia tay vĩnh biệt đã bắt đầu. Không phải là từ biệt mà là sự chấm dứt của tình duyên. Có thể họ còn gặp nhau nhưng chẳng bao giờ tái hợp nữa. Tràn ngập cả không gian và thời gian là nỗi buồn nhớ xa xôi đến muôn dặm. Thúc Sinh với chuyến đi này sẽ phải đối diện với người vợ cả Ở ăn thì nết cũng hay – Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.

Kiều phấp phổng lo âu càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết!

Hai câu thơ cuối đoạn đã thể hiện sâu sắc lòng thương cảm của Nguyễn Du đối với nàng Kiều.

Luận điểm 2. Phân tích đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích

 - Từ ngữ, hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng (rừng phong, ngàn dâu xanh, màu quan san,...).

- Nghệ thuật đối (Người về >< Kẻ đi, chiếc bóng >< một mình, năm canh >< muôn dặm,...) có tác dụng biểu đạt thấm thía hơn, cảm động hơn tâm trạng lưu luyến của Thúc Sinh – Thúy Kiều khi chia ly và tình cảnh cô đơn vò võ của Thúy Kiều sau khi chia tay Thúc Sinh.

- Câu hỏi tu từ: Vầng trăng ai xẻ làm đôi với đại từ phiếm ai như lời than trách hướng đến sự nghiệt ngã của số phận đã chia lìa đôi lứa. Mượn hình ảnh vầng trăng không trọn vẹn, Nguyễn Du đã biểu đạt thành công tình cảnh chia lìa, xa cách giữa Thúc Sinh, Thúy Kiều. Phép đối trong câu thơ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường cộng hưởng với ý nghĩa của câu thơ trên càng tô đậm thêm sự trống trải, cô đơn của Thúy Kiều khi không còn Thúc Sinh bên cạnh.

- Thủ pháp ẩn dụ, ngoa dụ, dùng từ Hán Việt thì thủ pháp nhân cách hóa, sóng đôi cú pháp… cũng góp phần làm nên thành công của đoạn trích. Thông qua những biện pháp tu từ này, tác giả không những tái hiện được bức tranh phong cảnh lúc chia ly với những chất chứa khôn tả của người đi kẻ ở mà nhà thơ còn có thể diễn tả được thời gian đằng đẵng lẻ loi cô độc của người thiếu phụ trong một không gian thu buồn bã quá trống trải. Đoạn trích dường như đã mang lại cho người đọc cảm giác bâng khuâng đậm một nỗi buồn trước cuộc chia ly định mệnh.

3. Kết bài:

Khái quát lại đoạn trích và nêu cảm nghĩ của bản thân.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.

e. Sáng tạo

- Bài viết có luận điểm rõ ràng, lập luận thuyết phục, diễn đạt trong sáng, bài viết thể hiện được sự sáng tạo, độc đáo riêng.                                                                                                           

- Chữ viết sạch đẹp, rõ ràng, văn phong lưu loát; không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu.


Bắt đầu thi ngay